.
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT TRỢ GIÚP PHÁP LÝ (PHẦN 1)
Trợ giúp pháp lý (TGPL) là chính sách có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm công bằng, bình đẳng trước pháp luật, đặc biệt đối với các nhóm yếu thế trong xã hội. Ngày 23/4/2026, tại kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý (sau đây gọi là Luật), với tỷ lệ 100% đại biểu Quốc hội có mặt tán thành. Luật TGPL số 05/2026/QH16 gồm 03 Điều, trong đó: Điều 1 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TGPL năm 2017 (sửa đổi, bổ sung 24 Điều, bãi bỏ 02 Điều); Điều 2 sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật có liên quan; Điều 3 quy định về hiệu lực thi hành. Luật TGPL số 05/2026/QH16 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2027.
Bài viết xin giới thiệu một số điểm mới của Luật như sau:
1. Mở rộng diện người được TGPL
Đây là nội dung thu hút nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình tham gia góp ý dự thảo Luật sửa đổi. Đây cũng là vấn đề các đại biểu Quốc hội thảo luận nhiều nhất trong quá trình xây dựng Luật. Trải qua nhiều vòng lấy ý kiến, tiếp thu, chỉnh lý ý kiến của các đại biểu Quốc hội, cùng với ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan, Luật cho thấy phương châm cốt lõi trong việc xác định diện người được TGPL là phải dựa trên những nguyên tắc, tiêu chí rõ ràng, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật hiện hành và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời, bảo đảm tính khả thi trong tổ chức thực hiện. Theo đó, quy định về người được TGPL trong Luật tiếp tục kế thừa những nội dung còn phù hợp của Luật TGPL năm 2017 nhằm bảo đảm tốt hơn quyền được TGPL của những người dễ bị tổn thương trong xã hội. Bên cạnh đó, việc xác định diện người được trợ giúp pháp lý cũng dựa trên các chính sách xã hội cơ bản (chính sách giảm nghèo, hính sách ưu đãi người có công, chính sách dân tộc…) và điều kiện của đất nước. Luật quy định rõ từng nhóm đối tượng, với những tiêu chí cụ thể để bảo đảm tính minh bạch và thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. So với Luật TGPL năm 2017, diện người được TGPL đã được mở rộng, cụ thể như sau:
- 07 nhóm người được kế thừa hoàn toàn từ quy định hiện hành là:
+ Người thuộc hộ nghèo;
+ Người có công với cách mạng;
+ Trẻ em;
+ Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
+ Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng, người chấp hành biện pháp xử lý chuyển hướng, phạm nhân theo quy định của Luật Tư pháp người chưa thành niên.
+ Nạn nhân, người đang trong quá trình xác định là nạn nhân của hành vi mua bán người và người dưới 18 tuổi đi cùng theo quy định của Luật Phòng, chống mua bán người.
- 03 nhóm người được kế thừa và mở rộng theo hướng được TGPL không phụ thuộc vào yếu tố khó khăn tài chính là:
+ Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi liệt sĩ;
+ Người nhiễm chất độc da cam;
+ Người khuyết tật;
- 02 nhóm người không quy định theo tiêu chí trung gian “có khó khăn về tài chính” mà được mở rộng và quy định trực tiếp gắn với điều kiện cụ thể của từng nhóm; đó là:
+ Người thuộc hộ cận nghèo;
+ Người được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng là người cao tuổi, người bị bạo lực trong vụ việc bạo lực gia đình, người nhiễm HIV.
- 05 nhóm người được bổ sung mới hoàn toàn là:
+ Người dân tộc thiểu số rất ít người;
+ Người lao động có thu nhập thấp là người bị buộc tội, bị hại.
+ Người có khó khăn đột xuất do gặp thiên tai hoặc hỏa hoạn được trợ giúp pháp lý trong vụ việc liên quan trực tiếp đến khắc phục hậu quả xảy ra với họ bởi các sự kiện này.
+ Cá nhân bị thiệt hại mà không thuê người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
+ Người nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định được trợ giúp pháp lý.
Ngoài ra, Luật TGPL bổ sung quy định “Người được trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật” nhằm tạo sự linh hoạt, bảo đảm kha năng bao quát các đối tượng được TGPL phát sinh trong tương lai.
Có thể thấy việc bổ sung các nhóm đối tượng mới và mở rộng một số nhóm theo hướng không phụ thuộc vào điều kiện tài chính đã góp phần mở rộng cơ hội tiếp cận công lý, bảo đảm TGPL kịp thời cho những trường hợp thực sự cần thiết trong thực tiễn. Qua đó, Luật TGPL tiếp tục khẳng định vai trò là công cụ quan trọng bảo đảm công bằng xã hội, thực hiện quyền con người, quyền công dân, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.
2. Luật hóa cơ chế trực TGPL tại Toà án nhân dân và trong điều tra hình sự, cơ chế phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi là luật hóa cơ chế trực TGPL tại Toà án nhân dân và trong điều tra hình sự, cơ chế phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, qua đó nâng tầm một cơ chế đang được vận hành hiệu quả trong thực tiễn lên thành quy định có giá trị pháp lý cao trong văn bản luật. Cụ thể, Điều 41 sửa đổi, bổ sung quy định:
“Điều 41. Trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng
1. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm phối hợp và tổ chức phối hợp thực hiện cơ chế liên ngành, trực trợ giúp pháp lý tại Tòa án nhân dân và trong điều tra hình sự; tạo điều kiện cho người được trợ giúp pháp lý được hưởng quyền trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện cho người thực hiện trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
2. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp xây dựng cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở Trung ương và cấp tỉnh.
3. Các cơ quan có liên quan đến hoạt động trợ giúp pháp lý trong tố tụng có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc tạo lập, tích hợp, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu thông qua kết nối, liên thông với cơ sở dữ liệu trợ giúp pháp lý trên Cổng Pháp luật quốc gia.”.
Thực tế gần 20 năm qua cho thấy, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và tổ chức thực hiện TGPL đã góp phần bảo đảm người thuộc diện đượcTGPL có thể tiếp cận dịch vụ kịp thời ngay từ giai đoạn đầu của quá trình tố tụng, nhằm hạn chế bỏ sót đối tượng và nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc.
Việc luật hóa cơ chế trực TGPL tại Toà án nhân dân và trong điều tra hình sự, cơ chế hội đồng phối hợp liên ngành mang lại nhiều lợi ích thiết thực: trước hết, nâng cao giá trị pháp lý, bảo đảm tính ổn định, thống nhất và lâu dài của cơ chế phối hợp; đồng thời tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan liên quan trong việc bảo đảm quyền được TGPL, đặc biệt khi các cơ quan tư pháp (Toà án, Viện kiểm sát) có tính độc lập cao. Bên cạnh đó, việc quy định ở cấp luật còn tạo điều kiện để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, bảo đảm cơ chế này được triển khai nghiêm túc, hiệu quả trên phạm vi toàn quốc. Đáng chú ý, quy định mới kế thừa mô hình đã vận hành hiệu quả, không làm phát sinh tổ chức bộ máy mới, không làm tăng biên chế, phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy nhà nước. Qua đó, Luật không chỉ củng cố một thiết chế phối hợp liên ngành có tính pháp lý cao, vận hành xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, mà còn góp phần nâng cao chất lượng TGPL trong tố tụng, bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận công lý của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội.
3. Không còn quy định giới hạn điều kiện đối với việc thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước
Để phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp và thực hiện chủ trương phân cấp, phân quyền mạnh mẽ cho địa phương, Luật đã bỏ quy định về điều kiện địa bàn thành lập Chi nhánh của Trung tâm TGPL nhà nước ở “các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện, chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia TGPL”. Điều kiện thành lập Chi nhánh được quy định theo hướng mở, đó là “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương” Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Chi nhánh, nhằm trao quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương chủ động quyết định thành lập Chi nhánh, thực hiện triệt để nguyên tắc "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm". Sự điều chỉnh này đã tạo điều kiện để Chi nhánh – “cánh tay nối dài” của Trung tâm, được bố trí linh hoạt hơn theo đặc thù từng địa bàn, qua đó bảo đảm người dân, đặc biệt là người thuộc diện được TGPL được tiếp cận dịch vụ TGPL kịp thời, liên tục, không bị gián đoạn trong bối cảnh nhiều địa phương có phạm vi quản lý rộng, điều kiện địa lý, giao thông đi lại khác nhau, quy mô dân số lớn và cơ cấu dân cư đa dạng.
4. Hoàn thiện tiêu chuẩn và cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm trợ giúp viên pháp lý
Một trong những nội dung được sửa đổi, bổ sung quan trọng của Luật lần này là hoàn thiện quy định về bổ nhiệm, cấp thẻ trợ giúp viên pháp lý và miễn nhiệm, thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý theo hướng chặt chẽ, minh bạch và phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn.
Đối với điều kiện tập sự, để phát huy nguồn nhân lực đã có kinh nghiệm, Luật quy định một trong những tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý là “Đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư hoặc tập sự trợ giúp pháp lý, trừ trường hợp đã từng là trợ giúp viên pháp lý” . Đây là điểm mới hợp lý, thể hiện sự điều chỉnh linh hoạt trên cơ sở thực tiễn quản lý đội ngũ trợ giúp viên pháp lý trong thời gian qua. Theo quy định trước đây, mọi trường hợp khi được xem xét bổ nhiệm đều phải đáp ứng điều kiện về tập sự, kể cả những người đã từng là trợ giúp viên pháp lý nhưng vì lý do công tác đã chuyển sang vị trí khác, sau đó quay trở lại làm trợ giúp pháp lý. Điều này dẫn đến bất cập khi yêu cầu tập sự lại đối với những người đã có kinh nghiệm thực tiễn, đã từng trực tiếp thực hiện TGPL, gây lãng phí thời gian, nguồn lực.
Luật đã bổ sung, cụ thể hóa các trường hợp không được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý theo hướng rõ ràng hơn. Cụ thể, để được bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý thì bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn trợ giúp viên pháp lý (quy định tại Điều 19) thì không được thuộc một trong các trường hợp:
- Đang trong thời hạn bị xử lý kỷ luật; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc;
- Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý.
Quy định này nhằm nâng cao tiêu chuẩn đầu vào, bảo đảm đội ngũ trợ giúp viên pháp lý có phẩm chất đạo đức, uy tín và năng lực chuyên môn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của hoạt động trợ giúp pháp lý, nhất là trong hoạt động trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng.
Bên cạnh đó, Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về miễn nhiệm và thu hồi thẻ trợ giúp viên pháp lý theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với điều kiện bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý. Theo đó, Luật bổ sung một số trường hợp cụ thể là căn cứ miễn nhiệm và thu hồi thẻ, như bị kết án mà bản án đã có hiệu lực pháp luật hoặc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc cơ sở giáo dục bắt buộc.
Để thời gian tới tiếp tục duy trì đội ngũ trợ giúp viên pháp lý có năng lực, bảo đảm chất lượng dịch vụ TGPL cung cấp cho người yếu thế, Luật đã siết chặt hơn khi quy định trợ giúp viên pháp lý bị miễn nhiệm và thu hồi thẻ khi không thực hiện vụ việc tham gia tố tụng trong 12 tháng liên tục (Luật TGPL năm 2017 quy định trong 02 năm liên tục); hoặc khi bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo trở lên do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý tại khoản 1 Điều 6 Luật TGPL năm 2017 (Luật TGPL năm 2017 quy định bị xử lý kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo từ lần thứ 02 trở lên hoặc cách chức do thực hiện hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động trợ giúp pháp lý). Những quy định này góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động nghề nghiệp, đồng thời bảo đảm cơ chế sàng lọc, duy trì chất lượng đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý.
Ngoài ra, Luật bổ sung quy định trợ giúp viên pháp lý đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý đương nhiên không còn giá trị. Đối với các trường hợp như chuyển công tác khác, thôi việc, cho thôi việc hoặc nghỉ hưu, thì đương nhiên miễn nhiệm và thẻ trợ giúp viên pháp lý không còn giá trị. Như vậy, các trường hợp này không phải thực hiện thủ tục xem xét, quyết định thu hồi thẻ như trước đây; nhằm giảm bớt các thủ tục không cần thiết.
